Đăc trưng về khí hậu Việt Nam

22/06/2016

Khí hậu thế giới được phân vùng thành hành đới, ôn đới, cận nhiệt đới, nhiệt đới khô và nhiệt đới ẩm. So sánh với các quy định quốc tế ở Budapest 1957 và Vacsava 1959, nước Việt Nam với vị trí địa lý ở vĩ tuyến Bắc kéo dài từ 8002’ đến 23023’ hoàn toàn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm, nghĩa là có đến 200 ngày nhiệt đới trong năm và 12 giờ nhiệt đới trong ngày với nhiệt độ cao hơn 200C, độ ẩm lớn hơn 80%. Những đặc điểm cơ bản của khí hậu nhiệt đới Việt Nam là: nắng nóng do bức xạ mặt trời cao và ẩm do mưa, gió, bão nhiều.

1. Nắng, nóng:

Nhiệt độ trung bình cả năm trên toàn lãnh thổ Việt Nam đều cao hơn 200C, song nhiệt độ trung bình hàng tháng lại rất khác nhau và có xu hướng:
• Miền Bắc biến đổi lớn hơn so với miền Nam.
• Tăng dần từ Bắc vào Nam, từ vùng cao xuống vùng thấp.
• Đến Bắc Trung Bộ, biến đổi nhiệt độ phản ánh khí hậu 4 mùa: mùa rét lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 còn mùa nắng nóng từ tháng 4 đến tháng 8; song từ miền Nam Trung Bộ trở vào không còn mùa đông lạnh mà chỉ còn đặc điểm 2 mùa: khô và mưa.
 

 Nhiệt độ trung bình của các vùng tiêu biểu của Việt Nam

Tuy nhiệt độ trung bình của nước ta cao hơn 200C phản ánh khí hậu nhiệt đới nắng nóng, song dao động nhiệt độ lại rất lớn giữa ngày và đêm cũng như giữa các ngày trong tháng.
Theo nhiều số liệu nghiên cứu, tuy dao động nhiệt độ trung bình từ 4,20C đến 13,50C nhưng dao động nhiệt độ tuyệt đối toàn lãnh thổ Việt Nam rất lớn từ 10,20C đến 33,10C, trong đó các tỉnh miền Bắc và miền núi dao động lớn hơn các tỉnh đồng bằng. Trong khi sự biến đổi của dao động nhiệt độ giữa các tháng trong năm của các tỉnh miền Bắc và miền núi đều có giá trị khá cao và ít thay đổi thì tại các tỉnh miền Nam và gần biển biên độ dao động nhiệt độ nhỏ hơn và thường chỉ có giá trị dao động không lớn vào mùa nắng khô.
Sự dao động nhiệt độ này sẽ là nguyên nhân tiềm ẩn gây nên hiện tượng sốc nhiệt ẩm, làm tăng độ ẩm đến giới hạn ngưng tụ ẩm và đọng sương trên mọi bề mặt các vật liệu tiếp xúc với không khí ẩm.

 

Bản đồ các khu vực địa lý đặc thù với giá trị nhiệt độ thấp nhất của tháng, tối thấp trung bình và tối thấp tuyệt đối

2. Mưa, ẩm:

Chế độ mưa ở nước ta thay đổi phụ thuộc vào mùa, hướng gió chính từ biển vào, vĩ độ và độ cao của địa hình song lượng mưa đều có giá trị trung bình khá lớn tương ứng với vùng khí hậu nhiệt đới ẩm.
Đặc điểm lượng mưa lớn kết hợp với địa hình ven biển, nhiều song, hồ và diện tích ruộng lúa nước được canh tác quanh năm là những điều kiện thuận lợi cho quá trình bốc hơi nước tạo nên độ ẩm cao cho khí hậu nước ta.

Kết luận:

Với đặc điểm nổi bật của khí hậu nhiệt đới ẩm Việt Nam: độ ẩm cao và có tổng thời gian ngưng tụ ẩm lớn hầu như quanh năm là điều kiện thuận lợi cho các quá trình tác động của môi trường gây xuống cấp và giảm tuổi thọ của mọi vật liệu tạo nên trang thiết bị, máy móc của các lĩnh vực. Để giải quyết vấn đề này, giải pháp tối ưu về hiệu quả vận hành và hiệu quả kinh tế chính là sử dụng máy xử lý ẩm công nghiệp. Với chức năng chính là điều chỉnh độ ẩm tương đối về mức phù hợp với yêu cầu sản xuất và bảo quản để không làm hư hỏng trang thiết bị, duy trì chất lượng máy móc và quan trọng nhất là đảm bảo chất lượng sản phẩm trong điều kiện tốt nhất.

Một số máy xử lý ẩm công nghiệp, giải pháp dùng máy hút ẩm công nghiệp,....

PAN
Trang 15 / 16 « 10 11 12 13 14 15 16 »